Thực đơn bữa sáng giúp trẻ chống cảm cúm

0

Thời tiết chuyển mùa là lúc trẻ em dễ mắc những căn bệnh khó chịu như cảm cúm, sổ mũi. Để giữ sức khoẻ, việc bổ sung chế độ dinh dưỡng  cho trẻ vẫn là điều quan trọng nhất. Hãy cho bé khởi đầu ngày mới với bữa sáng chống cảm cúm hiệu quả.


1. Trứng ốp-la

Theo một số nghiên cứu, vitamin D không chỉ giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh cảm cúm thông thường mà còn mau chóng phục hồi nếu bạn đang bị sổ mũi. Một lòng đỏ trứng chứa khoảng  6% lượng vitamin D thiết yếu hằng ngày cho cơ thể. 

1. Salad trái cây
Vitamin C không hẳn có công dụng hoàn hảo trong việc đẩy lùi cảm cúm như nhiều người lầm tưởng, tuy nhiên chúng ta không thể phủ nhận công dụng hữu ích của vitamin C trong bưởi, đu đủ và kiwi..
3. Sữa chua và mầm lúa mạch
Mầm lúa mạch là một trong những nguồn thức ăn dồi dào kẽm. Theo các nhà khoa học, một lượng kẽm vừa đủ có khả năng rút ngắn cơn cảm lạnh của bạn xuống khoảng 1,5 ngày. Cứ 30 gram mầm lúa mạch chứa hơn 3 mg kẽm, gần ¼ lượng kẽm cần thiết mỗi ngày. Bạn có thể dùng mầm lúa mạch như một thực phẩm ăn kèm sữa chua, với vị giòn tan và ngọt nhẹ tạo nên sự kết hợp hoàn hảo.

4. Bánh mì nướng cá hồi
Cá hồi là lựa chọn tuyệt vời cho bất cứ ai mong muốn tìm kiếm nguồn vitamin D dồi dào. Ngoài ra, bạn có thể dùng kèm với 1 vài lát phô mai cung cấp thêm protein, tăng cường sức đề kháng của cơ thể đối với các bệnh cảm cúm.

5. Trứng chiên ớt chuông đỏ

Trái cây không phải nguồn duy nhất nhất cung cấp vitamin C. Một chén ớt chuông đỏ chứa khoảng 190 mg vitamin C, gấp đôi hàm lượng trong một quả cam. Không chỉ thế, ớt chuông đỏ còn giàu vitamin A, hỗ trợ sự phát triển của các tế bào niêm mạc, chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn.

6. Hạt bí ngô

Một số nghiên cứu cho thấy, mỗi 30 mg hạt bí ngô chứa gần 3 mg kẽm, gần 20% lượng kẽm thiết yếu hàng ngày. Hãy thưởng thức sự hòa quyện hấp dẫn của hạt bí ngô dùng kèm granola (loại thực phẩm làm từ yến mạch, lạc, mật ong và gạo), sữa chua hoặc yến mạch.

7. Trà nóng
Cảm nhận hơi ấm lan tỏa từ ly trà nóng sẽ làm tan huyết khối và tạo cảm giác thư thái. Hãy dùng trà xanh để tăng thêm hiệu quả của các chất chống ôxy hóa như EGCG, tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể.


Chậu bếp dương vành Epicurean

0
Thiết kế hiện đại, tinh gọn với không gian rộng rãi khi vệ sinh các vật dụng bếp. Được chế tác từ chất liệu gang đúc tráng men của KOHLER, chậu bếp Epicurean không chỉ mang vẻ đẹp bóng sáng và còn cực kì bền chắc. Sản phẩm là một chọn lựa hoàn hảo cho một không gian bếp rộn ràng.

Rối loạn tiêu hóa và cách phòng chống

0


Táo bón, trào ngược dạ dày, đầy hơi, đau dạ dày và loét dạ dày là những rối loạn tiêu hóa thường gặp ở nhiều người. Nguyên nhân chính gây ra các bệnh này là do sự thiếu hụt enzym tiêu hóa.

Theo Tiến sĩ Dinesh Kumar Singal, chuyên gia về tiêu hóa tại Viện Nghiên cứu Pushpawati Singhania (Bệnh viện PSRI) thì hầu hết các bệnh về tiêu hóa có thể phòng ngừa và chữa khỏi một cách tự nhiên bằng cách tăng cường và duy trì sự ổn định của các enzyme tiêu hóa trong cơ thể. 

Enzyme tiêu hóa là gì?

Enzyme tiêu hóa là các enzym phân hủy các đại phân tử polyme thành dạng nhũ tương để nhung mao ruột có thể dễ dàng hấp thu vào máu, nuôi dưỡng cơ thể. Các enzym tiêu hóa này rất đa dạng và được tìm thấy nhiều trong nước bọt, trong dạ dày (do các tế bào trong dạ dày tiết ra), trong dịch tụy (do các tế bào tuyến tụy tiết ra) và trong đường ruột ( ruột già và ruột non)... 

Tuyến nước bọt tiết enzyme maltase, amylase… giúp tiêu hóa tinh bột. Dạ dày tiết dịch vị và men pepsin giúp tiêu hóa chất đạm. Dịch gan, mật giúp tiêu hóa chất béo. Tuyến tụy tiết dịch tụy để hoàn chỉnh việc tiêu hóa thức ăn ở ruột non.

Nói một cách đơn giản, sự hấp thụ các chất dinh dưỡng qua đường tiêu hóa không được tốt thì sẽ gây ra tình trạng rối loạn tiêu hóa. Các enzyme tiêu hóa có nhiệm vụ giúp phân huỷ thức ăn để thực hiện quá trình tiêu hóa tốt nhất.

Những bí mật đằng sau chứng rối loạn tiêu hóa bạn thường gặp 1
Ảnh minh họa

Nguyên nhân của sự thiếu hụt các enzym tiêu hóa

Theo tiến sĩ Dinesh Kumar Singal thì một vài yếu tố gây ra sự sụt giảm các enzym trong đường tiêu hóa. Những yếu tố nguy cơ này bao gồm:

Chế độ Dinh dưỡng cho trẻ ở giai đoạn 6 - 12 tháng tuổi

0
Dinh dưỡng cho trẻ ở giai đoạn 6 - 12 tháng tuổi   
Trong giai đoạn 4 -6 tháng bé chỉ bú sữa. Nhưng trong 6 tháng tiếp theo, bé bắt đầu ăn dặm và đến khi 1 tuổi bé đã ăn được hầu hết các thức ăn như người lớn. Sự chuyển tiếp này là một vấn đề lớn vì cả mẹ và bé cần làm quen dần với khái niệm “bữa ăn gia đình”. Để giải quyết vấn đề này, bạn cần cho trẻ ăn dặm từng bước để trẻ có thời gian làm quen với thức ăn mới, và bạn cần nhớ rằng sữa vẫn là nguồn dinh dưỡng quan trọng nhất cho trẻ. Bạn nên tiếp tục cho trẻ bú mẹ và dùng bổ sung thêm sữa công thức phù hợp với độ tuổi của trẻ.
 Khi trẻ bắt đầu tập ăn dặm, bố mẹ không nên sốt ruột mà cho bé ăn được nhiều ngày trong những bữa đầu. Việc tập cho bé ăn dặm cần được thực hiện một cách từ từ, với các loại thức ăn chú ý tập cho trẻ ăn từ ít đến nhiều, từ loãng đến đặc, thức ăn tăng dần theo từng lứa tuổi.

Giai đoạn  từ 5 - 6 tháng :
Dinh dưỡng cho trẻ ở giai đoạn 6 - 12 tháng tuổi
Dinh dưỡng cho trẻ ở giai đoạn 6 - 12 tháng tuổi   

 - Bắt đầu ăn : Nên cho trẻ ăn thử bột loãng (tỷ lệ 1:10) với lượng bột khoảng ½ thìa cà phê.
 - Trong tuần thứ nhất : Cho trẻ ăn với lượng 1 thìa cà phê khẩu phần ăn.
 - Các tuần tiếp theo tiếp tục cho trẻ ăn bột loãng với lượng như vậy, khi bé đã quen thì bắt đầu tăng từ 1 bữa bột/ngày lên hai bữa bột/ngày, lên ba bữa bột/ngày và sau đó nấu bột đặc dần cho trẻ ăn.
 Trong thời gian đầu tập ăn, chủ yếu là cho bé làm quen với thìa và tập nuốt, nguồn dinh dưỡng vẫn là sữa.
 Trẻ từ 7 - 12 tháng :
 Sau một thời gian tập ăn dặm, thời kỳ này trẻ đã quen với việc ăn thức ăn thô, và có thể ăn được tất cả các loại thức ăn nhưng cần được nấu, nghiền, xay nhỏ. Trong một ngày thực đơn của bé có thể dùng nhiều loại thức ăn chế biến nấu cùng bột hoặc cháo xay nhỏ chế biến thức ăn vào theo từng thực đơn.
 Đến tháng thứ 8, mặc dù bé chưa có đủ răng nhưng bắt đầu có phản xạ nhai, vì vậy thức ăn nấu cho trẻ cần được nấu nhừ và còn lại chút độ thô để kích thích trẻ nhai nuốt.
 Tháng thứ 9, đây là giai đoạn mẹ và bé thở phào nhẹ nhõm vì đã trải qua một thời gian tập ăn dặm của bé thật công phu. Lúc này trẻ có thể ăn được nhiều món ăn do mẹ nấu mà bé thích. Sau thời kỳ này đến 1 tuổi, trẻ có thể bắt đầu tập ăn cơm nhão, cơm nát và có thể ăn cơm cùng bố mẹ.

Các nhóm thức ăn bổ sung

- Nhóm cung cấp chất đạm : thịt, cá, tôm, cua, trứng, sữa, đỗ, vừng..
 - Nhóm cung cấp tinh bột : gạo, mì, khoai, ngô…
 - Nhóm cung cấp chất béo : dầu, mỡ, lạc…
 - Nhóm cung cấp vitamin và chất khoáng : rau ngót, rau muống, rau dền, rau cải, mùng tơi, chuối, đu đủ, xoài ….
 Số lượng bữa ăn hàng ngày
 - Từ 5 - 6 tháng : Bú mẹ là chính + 1 - 2 bữa bột loãng và nước hoa quả.
 - Từ 7 - 9 tháng : Bú mẹ + 2 - 3 bữa bột đặc và nước hoa quả.
 - Từ 10 - 12 tháng : Bú mẹ + 3 - 4 bữa bột đặc và hoa quả.
 Các món ăn cho trẻ ăn dặm theo tuổi
 3 món bột cho bé bắt đầu ăn dặm
 Lấy chút nước lạnh khuấy với 10g bột cho tan đều, thêm bí đỏ, đường và phần nước còn lại vào, bắc lên bếp lửa nhỏ, khuấy đều cho đến khi bột chín
 BỘT SỮA - BÍ ĐỎ (Một chén cung cấp 166 calo)
 Nguyên liệu:
 Bột gạo 10g (2 muỗng canh gạt)
 Sữa bột – loại sữa bé vẫn thường dùng: 12g (3 muỗng canh gạt)
 Bí đỏ 30g (3 muỗng canh gạt)
 Dầu 2,5g (1/2 muỗng cà phê)
 Đường 10g (2 muỗng cà phê)
 Nuớc 200ml (lưng 1 chén)
 Cách làm:

Bí đỏ luộc chín, tán nhuyễn.
 Lấy chút nước lạnh khuấy với 10g bột cho tan đều, thêm bí đỏ, đường và phần nước còn lại vào, bắc lên bếp lửa nhỏ, khuấy đều cho đến khi bột chín.
 Cho bột ra chén, thêm 1/2 muỗng cà phê dầu trộn thật đều sau đó mới cho từ từ sữa bột béo vào.
 Bé ăn từ 1/3 đến 1 chén mỗi ngày.
 BỘT TRỨNG - CÀ RỐT (Một chén cung cấp 150 calo)
 Nguyên liệu:
 Bột gạo 10g (2 muỗng canh gạt)
 Trứng gà 15g (1/2 lòng đỏ)
 Cà rốt 30g (3 muỗng canh)
 Đường 2g (1/2 muỗng cà phê)
 Dầu 5g (1 muỗng cà phê)
 Nước 200ml (lưng 1 chén nước)
 Cách làm:
 Cà rốt nấu chín tán nhuyễn
 Trứng gà: đánh đều lòng đỏ
 Cho 10g bột vào ít nước quậy tan đều, thêm vào phần nước còn lại cùng với trứng, bí đỏ, đường.
 Bắc lên bếp lửa nhỏ, khuấy đều tay đến khi bột chín, cho ra chén thêm vào 1 muỗng cà phê dầu trộn đều.
 BỘT ĐẬU HŨ - BÍ XANH (Một chén cung cấp 122,5 calo)
 Nguyên liệu:
 Bột gạo 10g (2 muỗng canh gạt)
 Tàu hũ trắng 30g (3 muỗng canh)
 Bí xanh 30g (3 muỗng canh)
 Đường 2g (1/2 muỗng cà phê)
 Dầu 5g (1 muỗng cà phê)
Nước 200ml (lưng 1 chén nước)
 Cách làm:
 Bí xanh nấu chín tán nhuyễn
 Tàu hũ trắng tán nhuyễn
 Hòa 10g bột gạo với chút nước, thêm vào hỗn hợp trên với phần nước còn lại, bí xanh, tàu hũ, đường, bắc lên bếp lửa nhỏ, khuấy đều đến khi chín. Cho ra chén thêm vào 1 muỗng cà phê trộn đều, nêm nước mắm ngon hoặc muối iốt vừa ăn.
 Có thể thay thế bí xanh bằng rau dền, rau muống, rau mồng tơi...
 Xin giới thiệu một vài món ăn dặm cho trẻ từ 6 tháng tuổi, được tư vấn bởi Bác sĩ Nguyễn Thị Hoa, Trưởng khoa dinh dưỡng bệnh viện Nhi Đồng 1.
 1. Cháo thịt heo, bí đỏ
Nguyên liệu
Cháo/bột gạo:4 muỗng canh
Bí đỏ (băm nhuyễn):1 muỗng canh
Thịt heo (nạc, băm nhuyễn) :1 muỗng canh
Dầu ăn:1 muỗng canh
Nước : 1 chén (nếu dùng bột gạo)
 Cách chế biến :
 Cho thịt heo vào nấu với nước/hoặc cháo.
Cho bí đỏ vào nấu mềm, để bớt nóng.
Trộn bột vào, thêm dầu ăn, khuấy đều

2. Cháo thịt heo, cải thìa

Nguyên liệu :

Cháo/bột gạo :4 muỗng canh
Cải thìa (băm nhuyễn):1 muỗng canh
Thịt heo (nạc, băm nhuyễn): 1 muỗng canh
Dầu ăn : 1 muỗng canh
Nước : 1 chén (nếu dùng bột gạo)
 Cách chế biến :
 Cho thịt heo vào nấu với nước/hoặc cháo.
Cho cải thìa vào nấu chín, để bớt nóng.
Trộn bột vào, thêm dầu ăn, khuấy đều

3. Cháo đậu hũ, cà rốt
 Nguyên liệu
 Cháo/bột gạo :4 muỗng canh
Cà rốt (băm nhuyễn) :1 muỗng canh
Đậu hũ non (tán nhuyễn): 1 muỗng canh
Dầu ăn : 1 muỗng canh
Nước : 1 chén (nếu dùng bột gạo)
 Cách chế biến
 Cho cà rốt nấu với nước/hoặc cháo.
Cho đậu hũ vào khuấy đều, đun sôi, để bớt nóng.
Trộn bột vào, thêm dầu ăn, khuấy đều

4. Cháo cật heo – cải thảo
 Nguyên liệu
 Cháo/bột gạo : 4 muỗng canh
Cải thảo (lá, băm nhuyễn) :1 muỗng canh
Cật heo (băm nhuyễn) 1 muỗng canh
Củ hành trắng : 1 muỗng canh
Dầu ăn 1 muỗng canh
Nước1 chén (nếu dùng bột gạo)
 Cách chế biến
 Phi hành trắng đã băm nhuyễn với dầu ăn cho thơm, cho cật heo vào xào.
Cho cải thảo nấu mềm, để bớt nóng.
Trộn bột/cháo vào, thêm dầu ăn, khuấy đều

5. Cháo đậu hũ – rau đay
 Nguyên liệu
 Cháo/bột gạo : 4 muỗng canh
Rau đay (lá, băm nhuyễn) 1 muỗng canh
Đậu hũ non (tán nhuyễn) 1 muỗng canh
Dầu ăn : 1 muỗng canh
Nước : 1 chén (nếu dùng bột gạo)
 Cách chế biến
 Cho rau đay vào nước, bắc lên bếp đun sôi.
Cho đậu hũ vào nấu chín, bắc xuống và chờ cho nguội bớt.
Trộn bột/cháo vào, thêm dầu ăn, khuấy đều
 Trên đây là một số thông tin về chế độ ăn cho trẻ từ 6-12 tháng tuổi. Tuy nhiên, trên thực tế, sẽ có những trường hợp ngoại lệ nên những thông tin này chỉ là những hướng dẫn, không nên xem đây là những nguyên tắc để áp dụng vì bạn là người biết rõ bé nhất về nhu cầu và thói quen ăn uống của bé.

Chế độ ăn tốt nhất cho trẻ 6 -12 tuổi

0


Chế độ dinh dưỡng cho trẻ từ 6 – 12 tuổi :Từ 6 tuổi trẻ em bắt đầu đi học, các chất dinh dưỡng cung cấp hằng ngày cho trẻ qua thức ăn không chỉ để trẻ phát triển về thể chất, mà còn cung cấp năng lượng cho trẻ học tập. Một chế độ dinh dưỡng hợp lý ở lứa tuổi này giúp trẻ thông minh, khỏe mạnh và phòng chống được bệnh tật.
Chế độ ăn cho trẻ 6 -12 tuổi
Chế độ ăn cho trẻ 6 -12 tuổi


Nhưng ở lứa tuổi này, nếu cho trẻ ăn uống quá mức sẽ dẫn đến thừa cân và béo phì, tình trạng này đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, nhất là ở các thành phố lớn. Ngược lại nếu ăn không đủ trẻ sẽ bị còi cọc, hay ốm đau, bị thiếu máu hay buồn ngủ, ngủ gật trong giờ học dẫn đến học kém và chán học.

Hiện nay nhu cầu đáp ứng vitamin của trẻ em, đặc biệt là trẻ nhỏ và trẻ tiểu học còn thấp. Trong đó, đặc biệt với vitamin nhóm B, mới chỉ đáp ứng 60 – 70% nhu cầu khuyến nghị. Vitamin C chỉ đáp ứng 60%. Thiếu hụt vitamin không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao, trí não của trẻ ở thời điểm hiện tại, mà hậu quả lâu dàu trẻ sẽ bị di chứng trở thành người thấp bé trong quãng đời trước mắt và tiếp nối ở những thế hệ sau. Vậy ở lứa tuổi này trẻ nên ăn bao nhiêu là đủ?

Chế biến thức ăn cho trẻ như thế nào?

Lứa tuổi này trẻ đã hoàn toàn ăn cùng với gia đình, tuy nhiên các bà mẹ cần lưu ý một số điểm sau:
- Cho trẻ ăn no và nhiều vào bữa sáng (để tránh ăn quà vặt ở đường phố, hoặc một số trẻ ăn quá ít, nhịn sáng sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập, thậm chí hạ đường huyết trong giờ học).
- Nên cho trẻ ăn nhiều loại thực phẩm khác nhau, tránh ăn một vài loại nhất định.

- Khuyến khích trẻ ăn nhiều rau, để tránh táo bón, đồng thời cung cấp nhiều vi chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của trẻ.
- Ăn đúng bữa, không ăn vặt, không ăn bánh, kẹo, nước ngọt trước bữa ăn
- Không nên nấu thức ăn quá mặn, tập thói quen ăn nhạt.
- Không nên ăn quá nhiều bánh kẹo, nước ngọt vì dễ bị sâu răng. Ðến bữa ăn nên chia suất ăn riêng cho trẻ, để tránh ăn quá ít hoặc quá nhiều.
- Tập thói quen uống nước kể cả khi không khát, lượng nước nên uống một ngày 1 lít.
- Giáo dục cho trẻ thói quen vệ sinh ăn uống: rửa tay trước khi ăn và sau khi đi đại tiện.
- Số bữa ăn: nên chia 4 bữa 1 ngày, 3 bữa chính một bữa phụ.



Dinh dưỡng hoàn hảo cho trẻ từ 1- 3 tuổi

0
Nhu cầu về dinh dưỡng ở lứa tuổi 1-3 tính theo trọng lượng cơ thể thì cao hơn so với người lớn. Tuy nhiên, do bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh nên trẻ rất dễ bị rối loạn tiêu hóa nếu nuôi dưỡng không đúng. Còn nếu ăn không đủ, trẻ sẽ bị suy dinh dưỡng. Vì vậy , Dinh dưỡng cho trẻ từ 1 đến 3 tuổi cho sự phát triển thể chất và tinh thần sau này

Đây là lứa tuổi phát triển rất nhanh cả về thể lực và trí tuệ. Chiều cao của trẻ lúc 2 tuổi đúng bằng 1/2 lúc trưởng thành. Vì vậy, việc nuôi dưỡng tốt ở tuổi 1-3 sẽ làm đà cho sự phát triển ở giai đoạn tiếp theo.
Dinh dưỡng hoàn hảo cho trẻ từ 1- 3 tuổi
Dinh dưỡng hoàn hảo cho trẻ từ 1- 3 tuổi

Về năng lượng, trẻ cần khoảng 100-110 Kcal/kg cân nặng mỗi ngày, được cung cấp qua các bữa ăn như bột, cháo, cơm nát, bún… nấu với các loại thức ăn cung cấp chất đạm như: thịt, trứng, cá, tôm, cua, đậu, đỗ, lạc vừng. Ngoài ra, dầu mỡ trong bữa ăn cũng là nguồn cung cấp năng lượng quan trọng. Một ngày trẻ nên ăn 150-200 gạo, nếu đã dùng bún, mỳ, phở thì rút bớt gạo đi.

Chất Đạm:
Chất đạm cấu tạo tế bào, là thành phần của các hoóc môn, tham gia vào các quá trình chuyển hóa trong cơ thể, giúp trẻ tăng trưởng và phát triển trí não. Nếu chế độ ăn thiếu chất đạm, trẻ sẽ còi cọc, chậm lớn, kém thông minh. Nhưng ăn quá nhiều chất đạm cũng không tốt vì sẽ gây gánh nặng cho thận, lại gây táo bón. Trong bữa ăn, đạm chỉ được hấp thu tốt nhất khi có tỷ lệ cân đối với bột đường và chất béo. Vai trò của rau xanh cũng rất quan trọng, việc thiếu rau xanh sẽ hạn chế hấp thu đạm.

Trẻ cần 2-2,5 g đạm/kg cân nặng mỗi ngày. Số gam đạm trong 100 gam thực phẩm là: thịt lợn hoặc thịt bò, thịt gà nạc có 20-21 g; cá, tôm cua (đã trừ phần thải bỏ) 16-18 g; trứng gà (vịt) 13-14 g; đậu phụ 9 g. Như vậy, một ngày trẻ cần khoảng 120-150 g thịt hoặc 150-200 g cá, tôm hoặc 300 g đậu phụ, nếu ăn trứng thì một quả trứng gà có lượng đạm tương đương với 30 g thịt nạc.
Chất Béo:
Dầu và mỡ cung cấp năng lượng trong bữa ăn của trẻ, làm cho thức ăn lỏng mềm, tạo cảm giác ngon miệng. Nó cũng là dung môi hòa tan các vitamin tan trong dầu như vitamin A, D, E, K. Các vitamin này chỉ hấp thu được khi chế độ ăn có đủ dầu mỡ. Ở lứa tuổi 1-3, trẻ cần khoảng 30-40 g dầu mỡ một ngày, cụ thể một bát bột hoặc cháo cần cho 1-2 thìa cà phê dầu hoặc mỡ. Nếu trẻ đã ăn cơm thì cho dầu và mỡ vào xào, rán thức ăn.
Nên cho trẻ ăn cả dầu và mỡ, nhất là mỡ các loại gia cầm như gà, ngan, vịt… vì chúng chứa nhiều axit béo chưa no cần thiết cho sự phát triển của trẻ, nhất là các tế bào não.
Các Chất Vitamin:
Vitamin A cần cho sự tăng trưởng, bảo vệ da, niêm mạc, tăng sức đề kháng của cơ thể, chống các bệnh nhiễm khuẩn, bảo vệ mắt, chống quáng gà và các bệnh khô mắt. Nhu cầu vitamin A ở lứa tuổi này là 400 mcg/ngày. Vitamin A có nhiều trong gan, trứng, sữa, dầu gan cá, gan cá biển; dầu cọ, dầu đậu tương, dầu ngô, đu đủ, xoài, cà rốt, bí ngô, gấc, rau ngót, rau muống, rau giền.
Vitamin D giúp cơ thể hấp thu canxi, phốt pho để duy trì và phát triển hệ xương, răng vững chắc, chống bệnh còi xương ở trẻ em. Nhu cầu vitamin D là 400 UI/ngày.
Vitamin C tăng cường hấp thu sắt, chống bệnh thiếu máu, giữ cho thành mạch vững chắc, chống bệnh chảy máu chân răng. Nhu cầu vitamin C là 30-60 mg/ngày.

Các Chất Khoáng:
Canxi, phốt pho giúp cho việc tạo xương, tạo răng, đảm bảo chức năng thần kinh và sự đông máu bình thường. Mỗi ngày trẻ cần 500-600 mg canxi. Chất này có nhiều trong sữa, các loại tôm, cua, cá, trai, ốc… Phốt pho có nhiều trong các loại cây ngũ cốc. Giữa canxi (CA) và phốt pho (P) phải có một tỷ lệ thích hợp thì trẻ mới hấp thu được. Tỷ lệ CA/P trong sữa mẹ là phù hợp nhất (bằng 1/1,5) nên trẻ bú sữa mẹ ít bị còi xương hơn trẻ uống sữa bò.
Canxi và phốt pho muốn hấp thu và chuyển hóa được lại phải có vitamin D, có rất ít trong thức ăn (sữa mẹ, lòng đỏ trứng và gan). Dưới tác dụng của ánh nắng mặt trời vào buổi sáng, tiền vitamin D ở dưới da sẽ chuyển thành vitamin D. Cho nên muốn phòng chống còi xương ở trẻ, ngoài việc ăn uống đầy đủ, phải cho trẻ ra ngoài trời tắm nắng vào buổi sáng.
Sắt rất cần cho sự tạo máu để phòng chống thiếu máu. Nó còn tham gia vào thành phần các men ôxy hóa khử trong cơ thể. Sắt có nhiều trong các loại thức ăn động vật như tim, gan, thận, đậu, đỗ và các loại rau có màu xanh thẫm. Sắt trong thức ăn động vật dễ hấp thu hơn trong thực vật; nhưng các loại rau xanh lại chứa nhiều vitamin C , giúp tăng cường hấp thu sắt. Vì vậy, nên cho trẻ ăn cả 2 loại.
Kẽm giúp chuyển hóa năng lượng và hình thành tổ chức. Kẽm tham gia vào các men chuyển hóa trong cơ thể, giúp trẻ ăn ngon miệng và phát triển tốt. Khi bị thiếu kẽm, trẻ thường kém ăn, rối loạn vị giác, chậm liền vết thương, rối loạn giấc ngủ, chậm phát triển về chiều cao. Kẽm có nhiều trong các loại thức ăn động vật như thịt, cá; các loại nhuyễn thể như trai, hến, sò huyết. Các loại ngũ cốc, rau quả cũng chứa nhiều kẽm nhưng giá trị sinh học thấp hơn.

Ngoài các chất dinh dưỡng đã nêu ở trên, cơ thể trẻ còn cần các chất xơ giúp đưa nhanh chất thải ra khỏi đường tiêu hóa, phòng chống táo bón. Chất này có nhiều trong rau xanh và quả chín. 

Dinh dưỡng cho trẻ dưới 12 tháng tuổi

0
Giai đoạn trẻ từ 6-12 tháng tuổi chế độ dinh dưỡng là điều cần thiết  đối với  sự phát triển của trẻ, sữa là nguồn thức ăn quan trọng nhất cho sự phát triển củ trẻ nhỏ, sữa cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết và phù hợp với nhu cầu của bé. Bé cần bao nhiêu sữa mỗi ngày? Khi được 6 tháng tuổi, bé uống khoảng 1.000 ml sữa mỗi ngày. Ở giai đoạn từ 6-12 tháng tuổi bé cần uống khoảng 750 ml sữa mỗi ngày. Bạn bắt đầu tập cho bé ăn dặm, chậm chậm từng chút một, bạn sẽ tăng dần lượng bột ăn dặm và giảm dần lượng sữa cho bé. 

 Trong 4-6 tháng đầu tiên, bé chỉ bú sữa. Nhưng trong 6 tháng tiếp theo, bé bắt đầu ăn dặm và đến khi 1 tuổi bé đã ăn được hầu hết các thức ăn như người lớn. Sự chuyển tiếp này là một vấn đề lớn vì cả mẹ và bé cần làm quen dần với khái niệm bữa ăn gia đình. Để giải quyết vấn đề này, bạn cần cho trẻ ăn dặm từng bước để trẻ có thời gian làm quen với thức ăn mới, và bạn cần nhớ rằng sữa vẫn là nguồn dinh dưỡng quan trọng nhất cho trẻ. Bạn nên tiếp tục cho trẻ bú mẹ và dùng bổ sung thêm sữa công thức phù hợp với độ tuổi của trẻ.

Lần đầu tiên bé nếm hương vị thức ăn thật sự. Học ăn là cả một nghệ thuật: thức ăn, phản xạ nhai nuốt, bàn ăn, thức ăn rơi vãi... Những bữa ăn đầu tiên bạn nên sắp xếp để cả gia đình cùng quây quần xung quanh bàn ăn, khích lệ và tự hào với từng muỗng ăn của bé.

Bé có thể ăn được những thức ăn gì?

- Bột ăn dặm hay là bột nấu trong những tháng đầu tiên. Cho bé ăn từ lỏng đến đặc dần.

- Từ tháng thứ 9 bé có thể tập ăn cháo nghiền rồi chuyển sang cháo đặc.

Nên chuẩn bị thức ăn cho bé như thế nào?

- Nếu là bột ăn dặm đóng hộp: bạn nên pha chế đúng theo hướng dẫn trên bao bì.

- Nếu bạn tự nấu cho bé: phải đảm bảo đầy đủ 4 nhóm chất đạm, bột đường, dầu ăn và rau củ tươi các loại. Khi bắt đầu nên cho bé ăn thức ăn nhuyễn hoàn toàn, thức ăn cho bé nên xay nhuyễn cho bé dễ ăn. Đến khi bé đã ăn thuần thục thức ăn nhuyễn, bạn chuyển sang cho trẻ ăn thức ăn nghiền hay băm nhỏ để tập cho bé nhai.

Bé cần ăn bao nhiêu là đủ?

- Bé sẽ bắt đầu bằng bột lỏng, cho bé ăn trong vài ngày, khi bé đã quen với thức ăn này thì chuyển sang thức ăn khác. Nếu bé không thích thức ăn mới thì bạn có thể cho bé ăn lại thức ăn cũ, bé co thể ăn 1 loại thức ăn trong nhiều tuần hay tháng tùy theo nhu cầu và ý thích của bé.

- Từ 6-9 tháng sữa vẫn sẽ chiếm khoảng ¾ tổng lượng thức ăn bé cần mỗi ngày. Sang tháng thứ 9, bưã ăn dặm và lượng sữa sẽ bằng nhau

- Khi bé được 12 tháng: cho bé tập ăn 3 bữa chính (sáng, trưa, chiều) cùng gia đình và 3 bữa ăn phụ giữa các bữa chính và trước khi đi ngủ.

Có thể phối hợp thức ăn dặm với sữa?

- Trong suốt giai đoạn 6-12 tháng tuổi, sữa vẫn là thành phần quan trọng nhất trong khẩu phần ăn hàng ngày của bé. Trộn sữa vào trong thức ăn dặm cũng là 1 cách rất có ích để bé làm quen với thức ăn đặc và các hương vị mới cũng như đảm bảo đủ chất dinh dưỡng cho bé.

Các loại thức ăn nào an toàn cho bé?

- Thịt: lựa chọn các loại thịt ít mỡ hay bỏ bớt mỡ. Từ tháng 6-8 nên cho bé ăn thịt gà, cá. Sau 8 tháng bé ăn được tất cả các loại thịt, khoảng 1 muỗng canh mỗi bữa.

- Bột đường: là các loại bột gạo, bột ngũ cốc.

- Rau củ: cho bé ăn tất cả các loại rau, khi bé mới bắt đầu tập ăn dặm nên tránh các loại rau củ có thể làm bé bị đầy bụng khó tiêu như các loại rau giàu nitrate (như rau diếp, củ cải đường, bắp cải, cần tây...), tháng thứ 9-10 bé có thể ăn các loại rau này nhưng hạn chế ăn chỉ ăn 1-2 lần/tuần.

- Dầu mỡ: nên cho bé ăn các loại dầu thực vật, hạn chế ăn mỡ động vật.

- Trái cây: bé có thể ăn tất cả các loại trái cây, bạn có thể bắt đầu bằng nước ép trái cây tươi pha loãng, rồi đến nước ép trái cây tươi nguyên chất, nước ép cả bã và bé có thể ăn trái cây cắt miếng nhỏ.

Trên thực tế, sẽ có những trường hợp ngoại lệ nên những thông tin này chỉ là những hướng dẫn, không nên xem đây là những nguyên tắc để áp dụng vì bạn là người biết rõ bé nhất về nhu cầu và thói quen ăn uống của bé.